
Một gia đình người Việt trong nhà bếp. (Ảnh của iStock.com/DragonImages)
Sự kết thúc Chiến tranh Việt Nam và việc quân đội Hoa Kỳ rút quân nhanh chóng vào năm 1975 đã đánh dấu sự khởi đầu của làn sóng di cư quy mô lớn từ Việt Nam đến Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ đã di tản khoảng 125.000 người Việt trong năm đó, hầu hết trong số họ có mối liên hệ mật thiết với quân đội Hoa Kỳ và có thể bị chính phủ Cộng sản mới xử lý. Sau những người này, nhiều người tị nạn Việt Nam khác cũng đến Hoa Kỳ để tìm kiếm sự bảo vệ. Số lượng người nhập cư từ Việt Nam tăng nhanh chóng, tăng gấp đôi trong cả những năm 1980 và 1990, lên đến 988.000 người vào năm 2000.
Hơn 1,3 triệu di dân gốc Việt sinh sống tại Hoa Kỳ vào năm 2022, năm mới nhất mà dữ liệu từ Khảo sát Cộng đồng Hoa Kỳ (ACS) của Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ được công bố, chiếm khoảng 3% trong tổng số 46,2 triệu di dân tại Hoa Kỳ. Họ là nhóm di dân từ một nước lớn thứ sáu, sau người Mexico, Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines và El Salvador. Khoảng 9% người nhập cư từ châu Á tại Hoa Kỳ năm 2022 là người gốc Việt.
Không giống như trước đây, khi hầu hết người Việt đến với tư cách là người tị nạn, ngày nay 87% thường trú nhân hợp pháp mới (LPR, còn được gọi là người có thẻ xanh) có được tình trạng này thông qua các diện đoàn tụ gia đình, hoặc là người thân trực hệ của công dân Hoa Kỳ hoặc thông qua các con đường bảo lãnh gia đình khác. So với những người nhập cư khác, người gốc Việt dễ dàng trở thành công dân Hoa Kỳ và đã sống tại Hoa Kỳ trong một thời gian dài. Họ cũng có trình độ học vấn thấp hơn và khả năng nói tiếng Anh không giỏi. Tuy nhiên, họ có thu nhập hộ gia đình trung bình cao hơn so với dân số nhập cư và dân số sinh ra tại Hoa Kỳ nói chung.
Bài viết này cung cấp thông tin về dân số người nhập cư gốc Việt tại Hoa Kỳ, tập trung vào quy mô, phân bố địa lý và đặc điểm kinh tế xã hội của họ.
Định nghĩa
Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ định nghĩa “người sinh ra ở nước ngoài” là những cá nhân không có quốc tịch Hoa Kỳ khi sinh ra. Dân số sinh ra ở nước ngoài bao gồm công dân nhập tịch, thường trú nhân hợp pháp, người tị nạn và người xin tị nạn, người cư ngụ hợp pháp (gồm những người có thị thực là sinh viên, lao động hoặc tạm dung khác) và cả những người cư trú tại quốc gia này bất hợp pháp.
Các thuật ngữ “người sinh ra ở nước ngoài” và “người nhập cư/di dân” được sử dụng thay nhau và chỉ những người sinh ra ở một quốc gia khác và sau đó di cư đến Hoa Kỳ.
Nhấp vào các dấu chấm tròn bên dưới để biết thêm thông tin:
- Quy mô Dân số Nhập cư theo Thời gian
- Phân bố theo Tiểu bang và các Thành phố lớn của Hoa Kỳ
- Trình độ tiếng Anh
- Tuổi tác, Học lực, và Việc làm
- Lợi tức và Nghèo đói
- Các Con đường Nhập cư và Nhập tịch
- Dân số Nhập cư bất hợp pháp
- Bảo hiểm Y tế
- Người Việt hải ngoại
- Các Điểm đến Hàng đầu trên Toàn cầu
- Kiều hối
Quy mô Dân số Nhập cư theo Thời gian
So với những năm trước, hai thập niên qua chứng kiến sự tăng trưởng chậm hơn của di dân gốc Việt tại Hoa Kỳ (xem Hình 1). Tốc độ tăng trưởng 26% giữa năm 2000 và 2010 đã không được lặp lại trong những năm tiếp theo, giảm xuống còn 7% giữa năm 2010 và 2022. Để so sánh, tổng di dân của Hoa Kỳ đã tăng 16% giữa năm 2010 và 2022.
Hình 1. Dân số người nhập cư gốc Việt tại Hoa kỳ, 1980-2022

Nguồn: Dữ liệu từ Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ, Khảo sát Cộng đồng Hoa Kỳ các năm 2010 và 2022 (ACS), và Campbell J. Gibson và Kay Jung, “Lịch sử Thống kê kiểm tra dân số về dân số sinh ở nước ngoài của Hoa Kỳ: 1850-2000” (Bài báo nghiên cứu số 81, Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ, Washington, DC, tháng 2 năm 2006), có lưu trên mạng.
Phân bố theo tiểu bang và các thành phố lớn của Hoa Kỳ
Người nhập cư từ Việt Nam tập trung chủ yếu ở California (38%), tiếp theo là Texas (14%) và tiểu bang Washington (5%) trong giai đoạn 2017-21. Florida, Virginia, Georgia và Massachusetts mỗi tiểu bang là nơi sinh sống của khoảng 3% đến 4% dân số người Việt Nam. Bốn quận có số lượng người nhập cư gốc Việt cao nhất là ba quận ở California (quận Orange, Santa Clara và Los Angeles) và quận Harris, Texas. Tổng cộng, bốn quận này chiếm 31% số người nhập cư gốc Việt tại Hoa Kỳ.
Hình 2. Các tiểu bang có số lượng người nhập cư gốc Việt cao nhất tại Hoa Kỳ, 2017-2021

Lưu ý: Dữ liệu ACS tổng hợp từ năm 2017-2021 được sử dụng để thu được các ước tính có giá trị thống kê ở cấp tiểu bang đối với các khu vực có dân số nhỏ hơn. Không hiển thị dân số ở Alaska, vì số lượng nhỏ; để biết thêm chi tiết, mời truy cập vào Trung tâm dữ liệu di cư của Viện Chính sách Di cư (MPI) để xem bản đồ tương tác hiển thị phân bố địa lý của người nhập cư theo tiểu bang và quận, có lưu trên mạng.
Nguồn: Bảng tổng hợp của MPI từ dữ liệu ACS tổng hợp năm 2017-2021 của Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ.
Nhấp vào đây để xem bản đồ tương tác làm nổi bật các tiểu bang và các quận có mật độ người nhập cư từ Việt Nam và các quốc gia khác cao nhất.
Các khu đô thị lớn Los Angeles, San Jose và Houston là nơi sinh sống của 33% người nhập cư gốc Việt tại Hoa Kỳ. Hơn 5% tổng số cư dân ở khu vực San Jose và vùng phụ cận sinh ở Việt Nam (xem Bảng 1).
Hình 3. Các đô thị là điểm đến hàng đầu của di dân gốc Việt tại Hoa Kỳ, 2017-21

Lưu ý: Dữ liệu ACS tổng hợp giai đoạn 2017-2021 được sử dụng để thu thập các ước tính có giá trị ở cấp độ thống kê đô thị đối với các khu vực có dân số nhỏ hơn.
Nguồn: Bảng tổng hợp dữ liệu từ Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ, dữ liệu của ACS giai đoạn 2017-2021.
Nhấp vào đây để xem bản đồ tương tác làm nổi bật các khu vực đô thị có nhiều người nhập cư từ Việt Nam và các quốc gia khác nhất.
Bảng 1. Các khu vực đô thị hàng đầu của Hoa Kỳ dành cho người nhập cư từ Việt Nam, 2017-2021

Nguồn: MPI tổng hợp dữ liệu từ Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ, dữ liệu ACS tổng hợp giai đoạn 2017-21.
Người nhập cư gốc Việt ít thành thạo tiếng Anh hơn so với toàn bộ dân số sinh ra ở nước ngoài. Năm 2022, khoảng 64% người Việt Nam từ 5 tuổi trở lên cho biết trình độ tiếng Anh dưới mức “rất tốt”, theo ACS, so với 46% của tất cả người nhập cư. Khoảng 10% người nhập cư gốc Việt chỉ nói tiếng Anh ở nhà, so với 17% của toàn bộ người sinh ra ở nước ngoài.
Tuổi tác, Giáo dục và Việc làm
Người Việt Nam thường lớn tuổi hơn so với toàn bộ dân số sinh ra ở nước ngoài và sinh ra tại Hoa Kỳ. Độ tuổi trung bình của người nhập cư gốc Việt năm 2022 là 53 tuổi, so với 47 tuổi đối với tất cả người nhập cư và 37 tuổi đối với người sinh ra tại Hoa Kỳ. Điều này chủ yếu là do số lượng người lớn tuổi gốc Việt chiếm tỷ lệ cao bất thường: 23% người Việt Nam từ 65 tuổi trở lên, so với 18% của toàn bộ dân số sinh ra ở nước ngoài và 17% đối với người sinh ra tại Hoa Kỳ (xem Hình 4). Trong khi đó, 74% dân số gốc Việt trong độ tuổi lao động (18 đến 64 tuổi) so với 58% người sinh ra tại Hoa Kỳ và 77% của tất cả người nhập cư.
Hình 4. Phân bố độ tuổi của dân số Hoa Kỳ theo nguồn gốc, năm 2022

Lưu ý: Tỷ lệ phần trăm có thể không cộng lại thành 100% do được làm tròn đến số nguyên gần nhất.
Nguồn: Bảng tổng hợp dữ liệu của MPI từ Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ năm 2022 (ACS).
Người Việt Nam trưởng thành từ 25 tuổi trở lên thường có trình độ học vấn thấp hơn so với cả dân số bản địa và dân số nhập cư nói chung. Năm 2022, 29% người nhập cư gốc Việt Nam cho biết có bằng cử nhân trở lên, so với 36% người sinh ra tại Hoa Kỳ và 35% tất cả người nhập cư trưởng thành (xem Hình 5). Trong số những người Việt Nam đến Hoa Kỳ từ năm 2017 đến năm 2021, 28% người trưởng thành có bằng đại học, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tất cả những người nhập cư đến trong cùng thời kỳ đó (47%).
Nhấp vào đây để xem dữ liệu về trình độ học vấn của người nhập cư theo quốc gia xuất xứ và tổng thể.
Hình 5. Trình độ học vấn của dân số Hoa Kỳ (từ 25 tuổi trở lên) theo nguồn gốc, năm 2022

Lưu ý: Tỷ lệ phần trăm có thể không cộng lại thành 100% do được làm tròn đến số nguyên gần nhất.
Nguồn: Bảng tổng hợp dữ liệu của MPI từ Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ năm 2022 ACS.
Theo Viện Giáo dục Quốc tế, hơn 20.700 sinh viên quốc tế từ Việt Nam đã theo học tại các cơ sở giáo dục đại học của Hoa Kỳ trong niên học 2021-22, đứng thứ năm trong số các quốc gia có số lượng sinh viên nhiều nhất sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Canada. Sinh viên Việt Nam chiếm 2% trong tổng số 949.000 sinh viên quốc tế tại Hoa Kỳ, và 42% trong số gần 49.000 sinh viên đến từ Đông Nam Á.
Người Việt Nam tham gia lực lượng lao động với tỷ lệ tương tự như tất cả người nhập cư. Khoảng 65% người nhập cư Việt Nam và 67% tất cả người nhập cư từ 16 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động dân sự, so với 62% người bản địa. Người Việt Nam thường làm việc trong các ngành dịch vụ hơn so với tất cả người nhập cư hoặc người sinh ra tại Hoa Kỳ (xem Hình 6).
Hình 6. Người làm việc trong lực lượng lao động dân sự (từ 16 tuổi trở lên) theo nghề nghiệp và nguồn gốc, năm 2022

Lưu ý: Tỷ lệ phần trăm có thể không cộng lại thành 100% do được làm tròn đến số nguyên gần nhất.
Nguồn: Bảng tổng hợp dữ liệu của MPI từ Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ năm 2022 (ACS).
Thu nhập và nghèo đói
Người Việt Nam thường có thu nhập cao hơn so với dân số nhập cư và dân số bản địa nói chung. Năm 2022, các hộ của người nhập cư gốc Việt đứng đầu có thu nhập trung bình là 81.000 đô la, so với 75.000 đô la đối với cả các hộ nhập cư và hộ sinh ra tại Hoa Kỳ.
Năm 2022, tỷ lệ người nhập cư gốc Việt sống trong cảnh nghèo thấp hơn một chút (11%) so với người nước ngoài nói chung (14%) hoặc người sinh ra tại Hoa Kỳ (12%).
Các con đường nhập cư và nhập tịch
Người Việt Nam thường nhanh chóng nhập tịch trở thành công dân Hoa Kỳ nhiều hơn so với đa số người nhập cư. Vào năm 2022, 78% người Việt Nam được nhập tịch, so với 53% tổng dân số sinh ra ở nước ngoài.
So với tất cả những người nhập cư, nhiều người Việt Nam đến trước năm 2000, có 60% làm như vậy. Lại thêm 17% xảy ra trong khoảng từ năm 2000 đến năm 2009 và 23% từ năm 2010 trở đi (xem Hình 7).
Hình 7. Người nhập cư từ Việt Nam và tất cả người nhập cư tại Hoa Kỳ theo thời điểm đến, năm 2022

Lưu ý: Tỷ lệ phần trăm có thể không cộng lại thành 100% do được làm tròn đến số nguyên gần nhất.
Nguồn: Bảng tổng hợp dữ liệu của MPI từ Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ năm 2022 ACS.
Trong năm tài chính (FY) 2022, Việt Nam là quốc gia xuất xứ lớn thứ tám đối với những người thường trú nhân mới. Khoảng 24.400 trong số 1 triệu người thường trú nhân hợp pháp mới (khoảng 2%) đến từ Việt Nam. Phần lớn những người có thẻ xanh mới từ Việt Nam đến thông qua các kênh đoàn tụ gia đình: 87% nhận được thẻ xanh với tư cách là người thân trực hệ của công dân Hoa Kỳ hoặc được bảo lãnh bởi các thành viên gia đình khác. Con số này cao hơn so với 58% tổng số người thường trú nhân hợp pháp mới đến thông qua các con đường đó (xem Hình 8). Khoảng 12% người thường trú nhân hợp pháp mới từ Việt Nam đến thông qua bảo lãnh việc làm.
Hình 8. Các con đường nhập cư của người Việt Nam và tất cả người thường trú nhân hợp pháp tại Hoa Kỳ, năm 2022

Lưu ý: Người thân trực hệ của công dân Hoa Kỳ: Bao gồm vợ/chồng, con chưa thành niên và cha mẹ của công dân Hoa Kỳ. Ưu tiên bảo lãnh gia đình: Bao gồm con cái trưởng thành và anh chị em ruột của công dân Hoa Kỳ cũng như vợ/chồng và con cái của người có thẻ xanh. Chương trình xổ số thị thực đa dạng được thành lập theo Đạo luật Nhập cư năm 1990 để cho phép người nhập cư từ các quốc gia có tỷ lệ nhập cư thấp vào Hoa Kỳ. Luật quy định rằng tổng cộng 55.000 thị thực đa dạng được cấp mỗi năm tài chính. Cá nhân sinh ra ở Việt Nam không đủ điều kiện tham gia xổ số năm 2025. Tỷ lệ phần trăm có thể không cộng lại thành 100% do được làm tròn đến số nguyên gần nhất.
Nguồn: Bảng tổng hợp dữ liệu của MPI từ Bộ Nội An DHS), “Bảng 10D: Những người đạt được tình trạng thường trú nhân hợp pháp theo các loại nhập cảnh, khu vực và quốc gia sinh: Năm tài chính 2022”, cập nhật ngày 21 tháng 8 năm 2023, có lưu trên mạng.
Việc sử dụng mối quan hệ gia đình để nhận được tình trạng thường trú nhân hợp pháp (LPR) đã gia tăng trong những thập niên gần đây. Cho đến năm tài chính 1998, người nhập cư Việt Nam thường nhận được thẻ xanh với tư cách là người tị nạn hoặc người xin tị nạn. Trong năm tài chính 1982, 99% người nhập cư Việt Nam nhận được thẻ xanh đã nhập cảnh vào Hoa Kỳ dựa trên lý do nhân đạo (xem Hình 9); trong năm tài chính 2022, chưa đến 1% (ít hơn 100 người) nhận được tình trạng thường trú nhân hợp pháp thông qua kênh này.
Hình 9. Số lượng người tị nạn Việt Nam đến Hoa Kỳ và các con đường nhập cư được lựa chọn của thường trú nhân hợp pháp, các năm tài chính 1975-2022

Ghi chú: Mối quan hệ gia đình đề cập đến việc nhận được tình trạng thường trú nhân hợp pháp (LPR) thông qua cả diện bảo lãnh gia đình và diện thân nhân trực hệ của công dân Hoa Kỳ.
Nguồn: Bảng tổng hợp dữ liệu của MPI từ Linda W. Gordon, “Southeast Asian Refugee Migration to the United States,” Center for Migration Studies special issues 5, no. 3 (1987): 153-73; Gail P. Kelly, “Coping with America: Refugees from Vietnam, Cambodia, and Laos in the 1970s and 1980s,” Annals of the American Academy of Political and Social Science 487, no. 1 (1996): 138-49; Rubén G. Rumbaut, “A Legacy of War: Refugees from Vietnam, Laos, and Cambodia,” in Origins and Destinies: Immigration, Race, and Ethnicity in America, eds. Silvia Pedraza and Rubén G. Rumbaut (Belmont, CA: Wadsworth, 1996), có lưu trên mạng; DHS, Niên giám Thống kê Nhập cư 2000-2022, cập nhật ngày 21 tháng 8 năm 2023, có lưu trên mạng; Cục Nhập cư và Nhập tịch Hoa Kỳ (INS), Niên giám Thống kê của Cục Nhập cư và Nhập tịch (Washington, DC: Văn phòng In ấn Chính phủ Hoa Kỳ, các năm khác nhau); INS, Báo cáo thường niên (Washington, DC: Văn phòng In ấn Chính phủ Hoa Kỳ, 1977, 1976 và 1975).
Dân số nhập cư không có giấy tờ hợp pháp
Mặc dù hầu hết người nhập cư gốc Việt tại Hoa Kỳ đều có giấy tờ hợp pháp, nhưng theo ước tính của Viện Chính sách Di cư (MPI), khoảng 76.000 người không có giấy tờ hợp pháp vào năm 2021, chiếm chưa đến 1% trong tổng số 11,2 triệu người nhập cư không có giấy tờ hợp pháp.
Nhấp vào đây vào đây để xem tổng quan về dân số nhập cư bất hợp pháp tại Hoa Kỳ năm 2021.
Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2023, chỉ có 40 cá nhân đến từ Việt Nam tham gia chương trình Hành động Trì hoãn đối với Người nhập cư đến từ thời thơ ấu (DACA), trong tổng số 578.700 người nhận DACA. DACA cung cấp sự bảo vệ tạm thời khỏi bị trục xuất và giấy phép lao động cho những người nhập cư không có giấy tờ hợp pháp đến Hoa Kỳ khi còn nhỏ và đáp ứng các tiêu chí về giáo dục và các tiêu chí đủ điều kiện khác của chương trình.
Nhấp vào đây để xem các quốc gia xuất xứ hàng đầu của người nhận DACA và tiểu bang cư trú của họ tại Hoa Kỳ.
Người nhập cư gốc Việt có tỷ lệ bảo hiểm y tế cao so với tất cả người nhập cư. Năm 2022, chỉ có 7% người nhập cư gốc Việt không có bảo hiểm, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với 18% tổng số người sinh ra ở nước ngoài không có bảo hiểm y tế (xem Hình 10).
Hình 10. Bảo hiểm y tế cho di dân gốc Việt, tất cả người nhập cư và người sinh ra tại Hoa Kỳ, năm 2022

Lưu ý: Tổng tỷ lệ theo loại bảo hiểm có thể lớn hơn 100% vì một người có thể có nhiều hơn một loại bảo hiểm.
Nguồn: Bảng tổng hợp dữ liệu của MPI từ Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ năm 2022 ACS.
Cộng đồng người Việt hải ngoại
Cộng đồng người Việt hải ngoại tại Hoa Kỳ có gần 2,4 triệu người, những người sinh ở Việt Nam hoặc khai có nguồn gốc hoặc chủng tộc Việt Nam, theo số liệu tổng hợp từ ACS năm 2021. Những người sinh ra ở Hoa Kỳ chiếm 43% tổng số người Việt hải ngoại tại Hoa Kỳ. Cộng đồng này là nhóm lớn thứ 20 tại Hoa Kỳ.
Nhấp vào đây để xem ước tính về 35 nhóm cộng đồng người nước ngoài lớn nhất tại Hoa Kỳ năm 2022.
Các điểm đến toàn cầu hàng đầu
Trên toàn thế giới, Hoa Kỳ là nơi sinh sống của số người Việt Nam đông nhất trong số 3,4 triệu người Việt Nam sống ở nước ngoài, theo ước tính mới nhất giữa năm 2020 của Cục Dân số Liên Hợp Quốc. Các điểm đến hàng đầu khác bao gồm Nhật Bản (336.000), Trung Quốc (303.000) và Úc (270.000).
Nhấp vào đây để xem bản đồ tương tác cho thấy nơi người di cư từ Việt Nam và các quốc gia khác đã định cư trên toàn thế giới.
Kiều hối toàn cầu gửi về Việt Nam thông qua các kênh chính thức đã tăng hơn tám lần kể từ năm 2000, đạt ước tính 13,2 tỷ đô la vào năm 2022, theo Ngân hàng Thế giới. Kiều hối chiếm hơn 3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam.
Hình 11. Dòng kiều hối hàng năm đến Việt Nam, 2000-22

Nguồn: Bảng tổng hợp dữ liệu của MPI từ Ngân hàng Thế giới, Đối tác Tri thức Toàn cầu về Di cư và Phát triển (KNOMAD), “Dòng kiều hối”, cập nhật tháng 6 năm 2023, có lưu trên mạng.
Nhấp vào đây để xem biểu đồ tương tác hiển thị kiều hối hàng năm nhận được và gửi về Việt Nam và các quốc gia khác.
Jeanne Batalova
Nguồn: https://www.migrationpolicy.org/article/vietnamese-immigrants-united-states ngày 11 tháng 10 năm 2023
Theo các nguồn:
– Gibson, Campbell J. và Kay Jung. 2006. Thống kê kiểm tra lịch sử về dân số sinh ra ở nước ngoài của Hoa Kỳ: 1850-2000. Tài liệu số 81, Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ, Washington, DC, tháng 2 năm 2006. Có lưu trên mạng.
– Gordon, Linda W. 1987. Người tị nạn Đông Nam Á di cư đến Hoa Kỳ. Tạp chí chuyên đề của Trung tâm Nghiên cứu Di cư 5 (3): 153-73.
– Viện Giáo dục Quốc tế (IIE). Không ghi ngày tháng. Sinh viên quốc tế: Tất cả các quốc gia xuất xứ. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2023. Có lưu trên mạng.
– Kelly, Gail P. 1986. Đối phó với nước Mỹ: Người tị nạn từ Việt Nam, Campuchia và Lào trong những năm 1970 và 1980. Biên niên sử của Học viện Khoa học Chính trị và Xã hội Hoa Kỳ 487 (1): 138-49.
– Đối tác Tri thức về Di cư và Phát triển (KNOMAD)/Nhóm Ngân hàng Thế giới. 2023. Dòng kiều hối. Cập nhật tháng 6 năm 2023. Có lưu trên mạng.
– Kula, Stacy M. và Susan J. Paik. 2016. Phân tích lịch sử về cộng đồng người tị nạn Đông Nam Á: Sự hòa nhập văn hóa và giáo dục sau chiến tranh ở Hoa Kỳ. Tạp chí Giáo dục và Phát triển người Mỹ gốc Đông Nam Á 11 (1): 1. Có lưu trên mạng.
– Viện Chính sách Di cư (MPI), Trung tâm Dữ liệu Di cư. Không ghi ngày tháng. Các quốc gia sinh ra của người nhập cư Hoa Kỳ, 1960-Hiện tại. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2023. Có lưu trên mạng.
– Không ghi ngày tháng. Các nhóm người di cư hàng đầu ở Hoa Kỳ, 2021. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2023. Có lưu trên mạng.
– Rumbaut, Rubén G. 1996. Di sản chiến tranh: Người tị nạn từ Việt Nam, Lào và Campuchia. Trong Nguồn gốc và Số phận: Nhập cư, Chủng tộc và Dân tộc ở Mỹ, do Silvia Pedraza và Rubén G. Rumbaut biên soạn. Belmont, CA: Wadsworth. Có lưu trên mạng.
– 2008. Sự xuất hiện của thế hệ thứ hai: Nhập cư và sự dịch chuyển dân tộc ở Nam California. Biên niên sử của Học viện Khoa học Chính trị và Xã hội Hoa Kỳ 620 (1): 196-236.
– Cơ quan Dân số Liên Hợp Quốc. Không ghi ngày tháng. Số lượng người di cư quốc tế năm 2020 theo điểm đến và nguồn gốc. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2023. Có lưu trên mạng.
– Cục Kiểm tra Dân số Hoa Kỳ. 2022. Khảo sát Cộng đồng Hoa Kỳ năm 2021. Dữ liệu của Steven Ruggles, Katie Genadek, Ronald Goeken, Josiah Grover và Matthew Sobek. Chuỗi dữ liệu vi mô dùng công cộng tích hợp: Phiên bản 7.0 [bộ dữ liệu]. Minneapolis: Đại học Minnesota. Có lưu trên mạng.
– Không ghi ngày tháng. Khảo sát Cộng đồng Hoa Kỳ năm 2022—Nghiên cứu thêm: S0201 Hồ sơ dân số được chọn ở Hoa Kỳ. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2023. Có lưu trên mạng.
– Cục Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS). 2023. Số lượng người dạng DACA đang có theo tháng hết hạn DACA hiện tại tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2023. Washington, DC: USCIS. Có sẵn trực tuyến. Có lưu trên mạng.
– Bộ Nội An Hoa Kỳ (DHS), Văn phòng Thống kê Nhập cư. 2023. Niên giám Thống kê Nhập cư năm 2022. Cập nhật ngày 3 tháng 3 năm 2023. Có lưu trên mạng.
NẾU CÓ THẮC MẮC HOẶC BÌNH LUẬN VỀ BÀI VIẾT NÀY, MỜI LIÊN LẠC VỚI CHÚNG TÔI TẠI Source@MigrationPolicy.org